Cắt đuôi tụy nội soi: Xu hướng và những bài học qua 11 năm kinh nghiệm.

Tác giả: Peter J Kneuertz, Sameer H Patel, Carrie K Chu, Sarah B Fisher, Shishir K Maithel, Juan M Sarmiento, Sharon M Weber, Charles A Staley, David A Kooby

Đặt vấn đề: So sánh với cắt đuôi tụy mở, cắt đuôi tụy nội soi có tỷ lệ biến chứng thấp và thời gian nằm viện thấp hơn. Đã có nhiều báo cáo nhưng không làm sáng tỏ xu hướng lựa chọn bệnh nhân (BN), kỹ thuật và kết quả. Mục đích của chúng tôi là xác định kết quả sau cắt đuôi tụy nội soi ở một trung tâm chuyên khoa, phân tích xu hướng lựa chọ BN, kỹ thuật và giá trị của thang điểm nguy cơ biến chứng (CRS).

Phương pháp: BN được cắt đuôi tụy nội soi từ 1/2000 đến 1/2011 được chia làm 2 nhóm để đưa ra kết quả sớm và kinh nghiệm gần đây của chúng tôi. Đặc điểm mẫu BN, đặc điểm u, kết quả trước mổ, kỹ thuật  được kiểm tra và so sánh giữa 2 nhóm. CRS được áp dụng tính cho các BN, đánh giá lại kết quả được theo dõi.

Kết quả: 132 cắt đuôi tuy nội soi có 8 BN (6,1%) chuyển mổ mở. Tỷ lệ biến chứng chung và biến chứng lớn trong 30 ngày là 43,2% và 12,9%. Tỷ lệ tử vong dưới 1%. Rò tụy ở 28 BN (21%) trong đó 14 BN (11%) rò nhiều. Những BN cắt đuôi tụy nội soi gần đây (66 BN) có xu hướng nhiều bệnh nặng phối hợp hơn (Điểm Charlson > 2 chiếm 40,9% so với 16,7 %, p = 0,003.), u gần trung tâm hơn (74,2% so với 26,2 %, p< 0,001), cắt mở rộng nhiều hơn (10,6 cm so với 8,3 cm, p<0,001), thời gian mổ ngắn hơn (141 phút so với 172 phút, p=0,007), ít sử dụng bàn tay hỗ trợ hơn (25,8 % so với 66,6 %, p<0,001), Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm về kết quả trong và ngay sau mổ. Khi so sánh với mổ có bàn tay hỗ trợ thì PTNS hoàn toàn có thời gian nằm viện ngắn hơn (5,3 ngày so với 6,8 ngày, p= 0,032). Tăng CRS liên quan đến thời gian mổ dài, rò nhiều, nhiễm trùng vết mổ, truyền máu, biến chứng lớn, tái nhập hồi sức tích cực và tái nhập viện.

Kết luận: Với số lượng BN lớn, ở một trung tâm cho thấy mặc dù có sự thay đổi xu hướng chọn BN yếu hơn, u gần trung tâm hơn, nhưng kết mổ cắt đuôi tụy nội soi không thay đổi. Điểm CRS xuất hiện như một biện pháp đánh giá trước mổ hữu hiệu dùng đánh giá các kết quả mổ khác, bổ sung cho việc tiên lượng các biến chứng và rò (được xem như báo cáo đầu tiên).

Nguồn: The American College of Surgeon. (2012), 215 (2), 167- 176.

 

Nguồn: TS Lê Tư Hoàng – Phó trưởng khoa 1C – BVHN Việt Đức